• Trang chủ > Sàng lọc ung thư

QUY TRÌNH TẦM SOÁT UNG THƯ Ở PHỤ NỮ

****

 

Ung thư (K) là một nhóm bệnh cực kì phức tạp với hơn 100 loại bệnh khác nhau. Ung thư liên quan đến các tế bào của con người mất khả năng kiểm soát và tăng trưởng bất bình thường, dần dần trở thành khối u ác tính. Các khối u này ngày càng lớn lên về kích thước và số lượng tế bào bất thường, kết hợp với sự di căn khó kiểm soát khi mà các tế bào K di chuyển trong mạch máu và đi đến các vị trí mới trong cơ thể.

Tỉ lệ người mắc bệnh ung thư ngày càng gia tăng nhanh chóng vì nhiều lí do: tuổi thọ con người ngày càng kéo dài, yếu tố môi trường, chế độ ăn uống….Ngay ở những nước phát triển điều kiện vật chất đầy đủ chất lượng cuộc sống ở mức cao thì người dân vẫn phải đối mặt với nguy cơ ung thư cao. Vì vậy, chính bạn nên bảo vệ mình trước nguy cơ ung thư càng sớm càng tốt. Dịch vụ tầm soát ung thư sớm của chúng tôi ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu trên.

CÁC BƯỚC SÀNG LỌC UNG THƯ SỚM Ở PHỤ NỮ

1/Phát hiện sớm K vú:

K vú là một loại K mà ngay cả khi đã khởi phát hay ở giai đoạn đầu của bệnh cũng không có triệu chứng lâm sàng hay triệu chứng báo động gì cho bệnh nhân cả.

Các yếu tố nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ

Yếu tố

Nguy cơ thấp

Nguy cơ cao

Tuổi

30–34

70–74

Lần đầu có kinh

>14

<12

Thuốc tránh thai

Không dùng

Có dùng

Tuổi có con lần đầu

<20

≥30

Thời gian cho con bú

≥16

0

Số lần sinh con

≥5

0

Tuổi khi cắt buồng trứng

<35

Không cắt

Tuổi mãn kinh

<45

≥55

Dùng estrogen thay thế

Không dùng

Đang dùng

BMI cơ thể sau mãn kinh

<22,9

>30,7

Tiền sử gia đình có người bị K vú

Không

Nồng độ estradiol trong máu

Thấp

Cao

Ngoài ra, nguy cơ ung thư vú cũng gặp ở những nhóm người sau:

Bệnh nhân sống ở các quốc gia vùng Bắc Mỹ và Bắc Âu.

Có tiền sử phơi nhiễm bức xạ ion hóa.

Những phụ nữ không có con, người ta cho rằng cho con bú kéo dài trên 6 tháng có tác dụng bảo vệ chống ung thư vú ở các phụ nữ trẻ.

Uống rượu, tiếp xúc với thuốc trừ sâu (đặc biệt là DDT).

- Khám vú: Đối với phụ nữ khỏe mạnh cần khám định kỳ vú mỗi năm 1 lần. Từ 35t trở lên dù không có bất kì triệu chứng lâm sàng bất thường nào người phụ nữ có nguy cơ cao cần được khám vú 3-6 tháng /lần theo chỉ định của thầy thuốc.

- Chụp vú: Định kỳ hàng năm hoặc theo chỉ định của thầy thuốc. Cho đến nay chụp vú là phương pháp tốt nhất để phát hiện sớm K vú. Nó có thể phát hiện sớm K vú ngay cả khi chưa có triệu chứng lâm sàng, trước khi bác sỹ và người bệnh cảm nhận tổn thương.

 Chụp vú được đề nghị cho tất cả phụ nữ tuổi từ 35 trở lên với nhịp độ như sau:

 Lần chụp đầu tiên trong đời trong khoảng 35 tuổi - 39 tuổi

 Từ 40 - 49t; chụp vú 1 năm đến 2 năm 1 lần đến tùy theo yếu tố nguy cơ

 Từ 50t trở lên: chụp vú 1 năm/lần

 - Chọc tế bào kim nhỏ: Chọc để tìm tế bào K

2/Phát hiện sớm K buồng chứng:

Ung thư buồng trứng thường đến một cách thầm lặng không có bất kỳ sự báo trước nào

Yếu tố nguy cơ cao:

Yếu tố nội tiết và tiền căn thai sản:

Có những mối liên hệ rõ ràng giữa yếu tố nội tiết và tiền căn thai sản với nguy cơ mắc carcinôm buồng trứng như 

sinh đẻ ít và kinh thưa. Phụ nữ đã từng mang thai sẽ giảm nguy cơ ung thư buồng trứng xuống 2 lần.

Dùng thuốc kích thích rụng trứng, đặc biệt khi sử dụng kéo dài.

Thuốc ngừa thai: nhiều nghiên cứu cho thấy thuốc ngừa thai dạng uống có tác dụng bảo vệ đáng kể đối với carcinôm buồng trứng. Nguy cơ mắc carcinôm buồng trứng ở những phụ nữ này chỉ bằng một nửa so với những phụ nữ không sử dụng. Tác dụng bảo vệ này kéo dài nhiều năm sau khi ngưng sử dụng.

Chế độ dinh dưỡng.

Chế độ ăn nhiều mỡ làm tăng khả năng mắc carcinôm buồng trứng: những người có chế độ ăn nhiều chất có lactose như sữa mà thiếu men galactose-1-phosphate uridyltransferase có tăng nguy cơ mắc carcinôm buồng trứng.

Vitamin A và C dường như có vai trò bảo vệ.

Yếu tố môi trường.

Trong một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ tiếp xúc với bột talc qua bao cao su hoặc giấy vệ sinh có tăng nguy cơ mắc bệnh carcinôm buồng trứng. Tỷ lệ carcinôm buồng trứng cao ở những người có tiền căn dùng phấn thơm ở vùng sinh dục hơn những người không sử dụng.

Mối liên hệ giữa tia bức xạ ion và carcinôm buồng trứng còn nhiều bàn cãi. Chưa có bằng chứng rõ ràng về mối liên hệ giữa virus và carcinôm buồng trứng, nhưng có nhiều nghiên cứu đã cho thấy ảnh hưởng của virus như cúmrubellaquai bị đối với carcinôm buồng trứng.

Ảnh hưởng của yếu tố di truyền

Carcinôm buồng trứng có tính chất di truyền. Carcinôm buồng trứng di truyền thường xảy ra sớm hơn 10 năm so với carcinôm buồng trứng không có tính di truyền, tuy nhiên tiên lượng có vẻ tốt hơn.

Hội chứng ung thư vú-buồng trứng gia đình thường ảnh hưởng tới liên quan phả hệ bậc 1 và 2. Hội chứng này thường gặp ở phụ nữ trẻ, bướu buồng trứng thường ở 2 bên. Ở những phụ nữ này, nguy cơ bị mắc ung thư buồng trứng tăng gấp 2 đến 4 lần so với cộng đồng. Locus gen hiện diện trên chromosome 17 của gen BRCA14,

Hội chứng Lynch II: carcinôm tuyến ở nhiều cơ quan, hiện diện đồng thời ung thư ở đại tràng, buồng trứng, nội mạc tử cung,  và những ung thư khác của đường sinh dục45

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy người bị ung thư vú có tần suất bị ung thư buồng trứng cao gấp 2 lần người khác và ung thư buồng trứng có tần suất bị ung thư vú cao gấp 3, 4 lần4,

- Khám phụ khoa: người thầy thuốc thăm âm đạo, tử cung và hai phần phụ để phát hiện bất thường. Nhưng đó không phải cách tin cậy để chẩn đoán K buồng trứng

- Siêu âm: Là phương pháp sử dụng sóng âm có tần số cao. Những sóng này được chiếu vào buồng trứng. Các mô nang, túi khí, túi nước, khối u sẽ cho các hình ảnh khác nhau trên siêu âm. Nên làm siêu âm 3-6 tháng/lần vào thời điểm do bác sỹ chỉ định

- Xét nghiệm CA125: xét nghiệm máu để đo mức CA125, một sản phẩm của khối u thường thấy cao hơn bình thường ở những phụ nữ mắc K buồng trứng.

Xét nghiệm CEA

3/ Phát hiện sớm K nội mạc tử cung: Hiện tại khoa học chưa biết chính xác KNMTC >nhưng một điều chắc chắn đây không phải là bệnh lây truyền từ người này sang người khác. Các nhà khoa học cũng phát hiện ra một số yếu tố nguy cơ của KNMTC như: thường gặp ở phụ nữ trên 50t, quá sản nội mạc tử cung, người điều trị nội tiết thay thế, người béo phì, người dùng tamoxfen để điều trị K vú, người không sinh đẻ, người có kinh trước 12 tuổi.

- Khám: K nội mạc tử cung thường xuất hiện ở phụ nữ sau tuổi mãn kinh có ra máu âm đạo bất thường. Chảy máu dưới dạng loãng hoặc vệt máu hoặc số lượng máu nhiều. Những triệu chứng này có thể là của một số bệnh ít nguy hiểm hơn. Nhưng người phụ nữ không nên chủ quan mà cần đến bác sỹ ngay. Vì chỉ bác sỹ mới kết luận một cách chính xác

- Siêu âm: Siêu âm qua đường âm đạo nếu phát hiện lớp nội mạc tử cung dày hoặc có dịch, bác sỹ sẽ làm sinh thiết buồng tử cung.

- Sinh thiết: là thủ thuật lấy mẫu tổ chức NMTC làm xét nghiệm Giải phẫu bệnh lý tìm tế bào K

4/ Phát hiện sớm ung thư cổ tử cung:

K cổ tử cung lúc đầu có thể không có dấu hiệu gì. Sau có thể có triệu chứng như: chảy máu âm đạo sau giao hợp, kinh nguyệt kéo dài hơn bình thường, kinh nguyệt ra nhiều hơn bình thường, ra máu âm đạo ngoài thời kỳ kinh nguyệt, phụ nữ đã mất kinh bị ra máu âm đạo

Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh

- “Quan hệ” khi còn quá trẻ; “Quan hệ” với nhiều người; “Quan hệ” với một người mà người đó lại “quan hệ” với nhiều người khác.

- Bị nhiễm virus gây mụn cóc ở bộ phận sinh dục (HPV). Nhưng không phải phụ nữ nhiễm HPV hoặc nổi mụt cóc đều mắc ung thư cổ tử cung.

- Hút thuốc lá.

- Nhiễm trùng vùng kín (genital herpes) hay vi khuẩn chlamydia (hai chứng bệnh này gọi là bệnh truyền nhiễm đường tình dục – STDs).

- Chế độ ăn uống hàng ngày ít hoa quả và rau cải.

- Cân quá nặng; có mẹ (hay chị gái) mang bệnh ung thư cổ tử cung.

- Không đi khám phụ khoa theo định kỳ.

Khám phụ khoa: quan sát âm đạo và cổ tử cung

- Xét nghiệm PAP: Là phương pháp thử nghiệm tế bào cổ tử cung và giúp phát hiện K cổ tử cung ngay từ khi bệnh mới phát. Bác sỹ sẽ dùng 1 chổi nhỏ đưa vào tử cung quẹt để lấy tế bào rồi gửi đi xét nghiệm để tìm tế bào K. Cách thử nghiệm này đơn giản mà không làm bệnh nhân đau. Nhờ thử nghiệm này mà 90-95% các trường hợp K cổ tử cung có thể được phát hiện sớm

Những ai cần thử Pap: Tất cả phụ nữ tuổi từ 18 trở lên (hoặc sớm hơn nếu đã từng giao hợp) cần phải thử Pap mỗi năm 1 lần.

- Xét nghiệm HPV: Lấy dịch Ở cổ tử cung tìm vi rút HPV là một loại vi rút mà phần lớn tiến triển thành ung thư cổ tử cung là do loại vi rut này.

- Soi cổ tử cung: Soi cổ tử cung bắt buộc thực hiện với phụ nữ có kết quả Pap bất thường. Ngoài ra soi cổ tử cung để phát hiện những tổn thương không K nhưng cần điều trị như: viêm cổ tử cung, lộ tuyến cổ tử cung hoặc những tổn thương ở âm hộ, âm đạo.

Soi cổ tử cung nên thực hiện 6 tháng một lần để phát hiện sớm tổn thương và làm sinh thiết khi cần

- Sinh thiết cổ tử cung: Sinh thiết cổ tử cung là phương pháp lấy đi 1 mẩu tổ chức ở cổ tử cung bị nghi ngờ bất thường để làm xét nghiệm tìm tế bào K