Giới thiệu
Tư vấn hỏi đáp
Dịch vụ y khoa
Khoa Sơ sinh

Khoa Sơ sinh

KHOA SƠ SINH

HIỆN TẠI:

          Trưởng khoa:

          Phó trưởng khoa:BsCKII Nguyễn Thị Mai Anh, BsCKI Nguyễn Thị Tâm

          Y tá trưởng: Cử nhân Nguyễn Thị Ánh Tuyết

          Tổ trưởng Công đoàn: BsCKI Nguyễn Thị Tâm

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN:

Kỷ niệm 30 năm thành lập Bệnh viện, Khoa Sơ Sinh cùng với các khoa phòng khác của Bệnh viện đã có những bước phát triển đáng kể.

Là chuyên khoa Nhi trong một bệnh viện chuyên khoa Sản, các bác sĩ cũng như y tá, nữ hộ sinh của khoa Sơ Sinh phải tự học tập là chính, để nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng chăm sóc nhi. Công tác đào tạo huấn luyện được thường xuyên chú trọng. Các bác sĩ tích cực đi học chuyên khoa cấp I nhi, học chuyên khoa sơ bộ nhi tại Viện Nhi TƯ, dự các đợt tập huấn về hồi sức cấp cứu sơ sinh tại bệnh viện Phụ sản trung ương. Các bác sĩ còn tích cực học ngoại ngữ, theo học các lớp chuyên khoa Nhi bằng tiếng Pháp do trường Đại học y khoa Hà Nội kết hợp với Đại sứ quán Pháp tổ chức để thi đi thực tập nội trú tại Cộng hoà Pháp. Khoa tổ chức tự đào tạo chuyên môn chuyên khoa nhi cho Y tá, Nữ hộ sinh. Khoa cũng đã tổ chức những đợt tham quan, học tập chuyên môn cho Y tá, Nữ hộ sinh tại bệnh viện Phụ sản Trung ương. Đến nay biên chế của khoa có  09 bác sĩ (1 CKII, 6 CK-I Nhi, 1 thạc sĩ sắp tốt nghiệp tại Pháp; có 4 trong 9 Bác sĩ đã được thực tập nội trú 1 năm ở Pháp), 23 Nữ hộ sinh- Ytá (02 Cử nhân điều dưỡng, 02 đang học đại học điều dưỡng).

Bên cạnh yếu tố con người, Khoa được bệnh viên đầu tư không ngừng về trang thiết bị. Năm 2000 khoa được nhận một số trang thiết bị của chương trình ODA (Máy thở, bàn hồi sức, máy hút nhớt, bộ nội khí quản và bóng bóp sơ sinh...). Năm 2001 Khoa được nhận sự tài trợ của L’APPEL- một tổ chức nhân đạo phi chính phủ của Pháp. Chương trình hợp tác với L’APPEL đã giúp Khoa trong việc đào tạo lại chuyên môn  cho nhân viên (chuyên gia Pháp sang làm việc tại khoa và trưởng khoa sang thực tập tại Pháp), cung cấp cho Khoa thêm một số trang thiết bị (máy đo Bilirubin qua da, lồng ấp, đèn chiếu vàng da, máy tạo oxygen, máy truyền tĩnh mạch...) và thiết kế một Khoa sơ sinh mới, hiện đại( hệ thống điện an toàn, ổn định; hệ thống lọc nước sạch để tắm bé...). Năm 2006 có 2 máy thở CPAP, 2 máy đo độ bão hòa oxy qua da. Đầu năm 2007 có hệ thống oxy trung tâm. Cuối năm 2007 có 1 máy thở sơ sinh.

Đó là những điều kiện để Khoa không ngừng nâng cao chất lượng điều trị, giảm được đáng kể tỉ lệ tử vong sơ sinh sau đẻ £7ngày( từ 28,3 %o năm 1987 xuống 1,4 %o năm 2007). Khoa luôn có sự phối hợp chặt chẽ với chuyên khoa Sản, góp phần đáng kể giảm tỉ lệ sơ sinh ngạt sau đẻ (8,7% năm 1989 xuống dưới 1% năm 2007). Để nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ non tháng, khoa đã triển khai phương pháp Bà mẹ Kangooroo, áp dụng và cải tiến oxy liệu pháp, chiếu đèn dự phòng, dinh dưỡng sớm bằng sữa mẹ qua sonde nhỏ giọt dạ dày... từ đó giảm dần tỉ lệ tử vong trẻ non tháng, đặc biệt trẻ có cân nặng dưới 1500gr ( 65,9% năm 1995-1997 xuống 48,3% năm 1998-1999). Từ cuối năm 2007 khoa đã phối hợp với Trung tâm mắt HP tổ chức khám sàng lọc  bệnh võng mạc cho 114 trẻ sinh non < 2000gr, phát hiện sớm và gửi đi điều trị kịp thời cho 9 cháu. Khoa cũng thường xuyên chú trọng công tác vệ sinh vô khuẩn, phát hiện sớm và điều trị kịp thời nhiễm khuẩn mẹ- con theo đúng phác đồ. Do đó đã giảm được tỉ lệ Nhiễm khuẩn từ 2,44%( năm 1991-1992) xuống 0,65%( năm 1995-1997), giảm được tỉ lệ tử vong trong nhóm Nhiễm khuẩn từ 42,2% (năm 1995-1997) xuống 18,1% (năm 1998-1999).

          Bên cạnh hoạt động chuyên môn, Khoa Sơ Sinh luôn có nhiều cố gắng hoàn thành tốt các nhiệm vụ khác. Nhân viên của Khoa thực sự đoàn kết, hăng hái hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua do các đoàn thể trong bệnh viện khởi xướng như văn-thể-mĩ, nữ công...và luôn có giải thưởng cao.

Phương hướng của Khoa những năm tới là không ngừng học tập, đổi mới, xây dựng một nề nếp làm việc tự giác, đúng qui chế, qui trình qui tắc chuyên môn. Đáp ứng chủ trương phát triển khoa học kỹ thuật mũi nhọn của bệnh viện- là phát triển Hỗ trợ sinh sản, Khoa cũng đặt ra cho mình nhiệm vụ trọng tâm là nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ non tháng( triển khai thở máy, đặt catheter TM rốn, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng đường TM, điều trị dự phòng bệnh màng trong ( Surfactan) và bệnh còn ống động mạch ( Indomethacin…). Đẩy mạnh các mối quan hệ hợp tác quốc tế, công tác nghiên cứu khoa học và phát huy sáng kiến cải tiến, áp dụng kỹ thuật mới, đặc biệt chú trọng công tác tự đào tạo lại trong khoa là những biện pháp cơ bản nhằm thực hiện nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra.